Liên kết website
Bản đồ hành chính
ban do bac ho Cổng thông tin điện tửTỉnh Khánh HòaCổng thông tin điện tử tỉnh Khánh HòaCổng thông tin điện tử chính phủHệ thống vb pháp luậtTruong xa
Thống kê truy cập
Lịch sử hình thành

Dân cư và đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội

Dân cư và đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội

         1.     Quá trình hình thành dân cư

Từ nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, khi bờ cõi phương Nam của đất nước được mở rộng và định hình, chúa Nguyễn đã chiêu tập nhiều bộ phận dân cư khác nhau ở Trung Trung Bộ, mà tập trung chủ yếu ở phủ Quảng Bình, Quảng Nam vào khẩn hoang miền Nam. Bên cạnh đó, cũng có một bộ phận dân cư khác từ Đàng Ngoài vì bất đắc chí, cám cảnh triều đình Vua Lê - Chúa Trịnh mà vào Đàng Trong sinh cơ, lập nghiệp.

Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, điều kiện sinh hoạt rất khó khăn gian khổ, toàn xã Ninh Phước lại trong vùng kháng chiến, thường xuyên tiễn con em lên đường nhập ngũ, nhiều người tập kết ra Bắc sau năm 1954 nên dân số biến động không nhiều. Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1948, Pháp cưỡng ép Nhân dân Mỹ Giang phải dời đi sinh sống nhiều nơi khác. Đến năm 1962, sau khi Đồng Khởi, lật đổ chính quyền tại địa phương, địch dùng thủ đoạn xúc phần lớn dân Ninh Tịnh, Ninh Yển lên Động Dương rồi Ba Làng; dân Mỹ Giang, Đầm Vân vào Nha Trang, Vĩnh Xương, chỉ còn vài hộ dân kiên quyết bám trgày hòa bình lập lại, nhân dân từ các khu tập trung của địch trở về quê hương làm ăn sinh sống, dân số bắt đầu tăng trở lại so với trước năm 1962. Đặc biệt từ khi nhà máy đóng tàu Hyundai-Vinashin được xây dựng, Tỉnh lộ 1B được đưa vào hoạt động, dân số tăng dần, có thêm dân từ các tỉnh khác đến.

 

Đến vùng đất mới vốn còn hoang sơ, nhân dân Ninh Phước đã biết đoàn kết, tương trợ giúp đỡ, cùng nhau đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và tạo dựng được một cộng đồng làng xã ổn định. Trải qua nhiều thế kỷ lao động và chiến đấu, nhân dân Ninh Phước đã đổ không biết bao nhiêu công sức, mồ hôi, xương máu để xây dựng và bảo vệ quê hương, tạo lập những điều căn cơ cho các thế hệ nối tiếp nhau kế thừa và phát triển.

Theo số liệu điều tra đến năm 2011, dân số của xã Ninh Phước là 6818 người, phân bố trên 3 thôn: Thôn Mỹ Giang, Ninh Yển và Ninh Tịnh. Mật độ dân số là 186,3 người/km2. Tổng số người trong độ tuổi lao động chiếm 60,78% dân số trong xã. Lao động nông nghiệp chiếm 75,8%; lao động công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 19,3 % và lao động dịch vụ thương mại là 9,55%. Lao động qua đào tạo chiếm 20% tổng số lao động đang làm việc.

Dân cư nông nghiệp chiếm 2/3, còn lại là ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Trong 3 thôn, có 2 thôn là Mỹ Giang và Ninh Yển với 864 hộ với 3.870 nhân khẩu dự kiến sẽ được di dời lên khu vực tái định cư Ninh Thủy và Xóm Quán ( xã Ninh Thọ) để phục vụ cho dự án điện lực Nam Vân Phong, sẽ còn lại thôn Ninh Tịnh với 678 hộ, 2.948 nhân khẩu.

2. Các hoạt động kinh tế

Cư dân Mỹ Giang, Ninh Tịnh, Ninh Yển có các hoạt động kinh tế khá đa dạng, chủ yếu dựa vào các sản vật từ núi rừng Hòn Hèo và từ vùng biển ven bờ giàu nguồn lợi hải sản. Họ cần cù, chịu thương chịu khó, tận dụng những điều kiện tự nhiên vừa ưu đãi vừa khắc nghiệt để mở đất, lập làng, tạo ra những ngành nghề đáp ứng nhu cầu của bản thân và gia đình.

Dựa vào rừng núi Hòn Hèo, những cư dân xưa đã đốn gỗ làm nhà, đóng các vật dụng gia đình, làm củi, bán cho các vùng khác; săn bắt thú rừng làm thịt… còn chủ yếu để cống nộp quan lại hoặc đóng các thứ thuế do triều đình nhà Nguyễn quy định, đó là các thứ mà nay còn lưu trong sử sách như sáp ong, mật ong, kỳ nam, trầm hương, gỗ mun, mây hoa, nhung hươu, cọp, gấu, nai. Sau này, do rừng Hòn Hèo bị khai thác cạn kiệt nên Nhà nước siết chặt lại, hoạt động này bị hạn chế dần, hiện nay hầu như đã ngưng hẳn.

Thiên nhiên Ninh Phước hùng vĩ nhưng khắc nghiệt, đất đai kém màu mỡ, diện tích lại ít, chủ yếu là đồi núi nên khởi đầu nhân dân vừa làm nghề biển vừa làm ruộng với số đất thổ, ruộng gieo hạn hẹp, sát chân núi, chủ yếu là các giống lúa gòn, lúa mướp... năng suất thấp. Ở đây phổ biến là phát rẫy trên đồi với cách trồng trọt đốt rừng chọt lỗ trỉa bắp, trồng đậu sản lượng không cao, lương thực không đủ còn phải ăn thêm gạo mua ở Nha Trang. Ở rẫy có giống bắp chu ly thơm ngon nổi tiếng được thương lái đặt mua; ngoài ra nhân dân còn trồng thuốc lá cung cấp cho phía Vĩnh Xương, Nha Trang hằng năm với số lượng không nhỏ. Tuy nhiên các giống cây ngày nay không còn trồng hoặc đã bị mất giống. Ngoài các loại cây lương thực, người dân còn trồng thêm các cây hoa màu như mì, đậu phụng, khoai lang, tỏi và từng có thời điểm trồng cây thuốc lá… Trong đó, vài năm gần đây, cây tỏi được xem là loại cây trồng chủ yếu, giúp người dân trong xã thực sự thoát nghèo một cách bền vững.

Bên cạnh trồng trọt, nghề chăn nuôi gia cầm, gia súc cũng phát triển, hầu như nhà nào cũng nuôi gia súc như heo, trâu, bò, dê, gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng… Các loại gia súc, gia cầm này chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu của gia đình cũng như lễ lạt, hội hè. Đặc biệt, trên đảo Mỹ Giang có đồng cỏ rộng 10ha dùng để chăn thả gia súc. Vài năm trở lại đây, việc chăn nuôi gia súc trên các khu vực đồi núi được đẩy mạnh, các loại gia súc đã trở thành hàng hóa thương phẩm của người dân Ninh Phước.

Về ngư nghiệp, do vị trí nằm sát biển nên ngư nghiệp cũng được chú ý phát triển với các nghề đăng, nghề câu, nghề lưới cá, giã cào là những nghề có truyền thống từ xa xưa, nhất là đối với người dân Mỹ Giang. Buổi ban đầu lập làng, nhân dân chỉ có thuyền nan, thuyền buồm để đánh bắt ở các ngư trường ven bờ với những dụng cụ như lưới đăng, chong mành, chài, câu rớ. Hiện tại, đội tàu của xã đã được hiện đại hóa với hàng trăm chiếc ghe, xuồng bằng máy với gần 200 chiếc. Tuy nhiên, tàu chủ yếu có công suất nhỏ khai thác ven bờ, hải sản đánh bắt chủ yếu là tôm hùm, cá, mực, nhum, ốc các loại cung cấp cho Nha Trang.

Bên cạnh đó, trong vài chục năm trở lại đây, nghề nuôi tôm giống, ốc hương giống tại thôn Ninh Tịnh có sự phát triển mạnh mẽ. Khu vực này đã và đang trở thành một trong những “thủ phủ” về giống thủy sản của cả nước.

Bên cạnh các hoạt động nông nghiệp, trên địa bàn xã còn có nhiều khu du lịch cao cấp như: Jungle Beach, Wild Beachs, Vịnh Kim Lan…

Cùng với định hướng phát triển khu vực vịnh Vân Phong thành khu kinh tế tổng hợp và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch vùng Nam Phú Yên - Bắc Khánh Hòa đến năm 2015, theo đó, sẽ phát triển toàn khu vực trong đó có xã Ninh Phước, thành khu cảng trung chuyển dầu và sản phẩm dầu; phát triển không gian liên kết về kinh tế thương mại tự do quốc tế, phát triển các loại hình công nghiệp gắn với cảng biển và dịch vụ thương mại kho bãi; xây dựng các tuyến du lịch biển, núi, tham quan di tích…Xã Ninh Phước nằm trong khu vực phát triển của Nam Vân Phong và đang phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Xã được lựa chọn làm vị trí triển khai nhiều dự án công nghiệp. Hiện tại đang có nhà máy đóng tàu Hyun-dai-Vinashin, Kho xăng dầu ngoại quan Vân Phong. Đặc biệt, nhà máy đóng tàu Hyundai-Vinashin (HVS) đã tạo ra biến đổi lớn về diện mạo kinh tế - xã hội của người dân Ninh Phước. Được thành lập năm 1996, chính thức đi vào hoạt động năm 1999, trong hành trình 23 năm phát triển của mình, HVS ngày càng khẳng định uy tín không chỉ trong thị trường khu vực mà còn trên thế giới về độ tin cậy, tính chuyên nghiệp trong lĩnh vực đóng mới tàu biển với 853 tàu được sửa chữa và trên 100 tàu được đóng mới. Đến năm 2018, tổng số lao động trong công ty hơn 5.000 người, trong đó HVS trên 3.000 người và thầu phụ gần 2.000 người; doanh thu hàng năm đạt hơn 400 triệu USD (tính đến năm 2018). Từ khi nhà máy đi vào hoạt động, người dân Ninh Phước có thêm các hoạt động kinh tế mới, mà chủ yếu là dịch vụ buôn bán, tạp hóa, dịch vụ lưu trú…

Trong những năm tiếp theo sẽ triển khai thêm các dự án công nghiệp khác như Nhà máy nhiệt điện Vân Phong 1, trên diện tích đất của 2 thôn Mỹ Giang và Ninh Yển. Đây sẽ là thuận lợi lớn cho sự phát triển của địa phương.

3. Hoạt động giao thông - liên lạc

Trước năm 2003, xã Ninh Phước chỉ có tuyến đường mòn, chỉ có thể giao thông bằng những loại phương tiện thô sơ như xe đạp, xe bò. Đến năm 2003, xã Ninh Phước có tuyến Tỉnh lộ 1B chạy qua trung tâm xã theo hướng Bắc Nam nối trung tâm của thị xã Ninh Hòa với xã Ninh Phước. Đường Tỉnh lộ 1B đã tạo động lực quan trọng nhằm phát triển kinh tế Ninh Phước, giúp quê hương “thay da, đổi thịt”. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông nông thôn nội xã được nâng cấp, bê tông hóa tạo thêm nhiều điều kiện đi lại thuận lợi cho nhân dân. Ngoài ra, hệ thống giao thông của xã còn bao gồm đường trục thôn xóm và đường trục đồng ruộng. Xã hiện được cung cấp điện từ lưới điện trung thế 220KV của thị xã Ninh Hòa, số hộ được sử dụng lưới điện quốc gia cho sinh hoạt và sản xuất đạt tỷ lệ 100%.

Hệ thống cơ sở hạ tầng, mạng lưới thông tin - viễn thông được phủ sóng khắp trong xã. Đến năm 2010, tổng số máy điện thoại đạt hơn 70% số hộ.

4. Đời sống văn hóa - xã hội và tín ngưỡng, tâm linh

Trong quá trình khẩn hoang, lập làng, người dân Ninh Phước đã xây dựng hệ thống các đình, miếu để thờ tự thần linh, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, quốc thái dân an; cũng như tưởng nhớ tổ tiên, anh linh các bậc tiền nhân khai hoang, mở cõi. Trong kháng chiến, các ngôi đình bị địch phá hủy nhiều lần, chỉ còn lại phần móng. Sau ngày đất nước thống nhất, các cơ sở thờ tự này mới được xây mới khang trang. Các ngôi đình thờ Thành hoàng Bổn cảnh, các bậc Tiền hiền và Hậu hiền là những người có công khai hoang, lập làng. Kiến trúc đình khá tiêu biểu cho tín ngưỡng vùng biển. Hằng năm, đình tổ chức cúng 2 lần vào tháng 3 âm lịch và tháng 10 âm lịch. Đây là những lễ hội chủ yếu của người dân Ninh Phước.

Đình Ninh Tịnh được xây dựng lại từ năm 1992, trùng tu năm 2000. Hàng năm, đình tổ chức cúng 2 lần vào 20/2 âm lịch (cúng Kỳ yên) và 21/7 âm lịch (cúng Tiền hiền). Ngoài ra, 3 năm/lần, nhân dân Ninh Tịnh còn mời đoàn hát bội đến biểu diễn trong dịp cúng Tiền hiền.

Lăng ông Nam Hải tại Ninh Tịnh được xây dựng 20/7 âm lịch năm 1990. Lăng thờ ông Nam Hải và tổ chức cúng hàng năm vào dịp 19/6 âm lịch.

Đình Mỹ Giang đặt trên đảo Mỹ Giang, được xây dựng đầu thế kỷ XX, do chiến tranh nên sụp đổ. Đến năm 1956 được dựng lại, sau khi người dân trong thôn bị địch xúc đi, đình hoang phế, sau giải phóng đình được cải tạo lại.

Sau năm 1975, sau khi nhân dân đảo Mỹ Giang dời lên đất liền, năm 1990, Đình Mỹ Giang (mới) được xây dựng bên cạnh Miếu Ninh Yển. Hằng năm đình tổ chức cúng đình 2 lần vào 25/3 âm lịch cúng ông Nam Hải và 20/2 âm lịch cúng Kỳ yên. Đặc biệt, đình có đội chèo hò báo trạo có từ xưa với khoảng 20 người.

Cạnh Đình Mỹ Giang là Miếu Bà hậu thổ. Miếu được xây dựng mới năm 1993. Miếu thờ bà Thiên Y A Na. Hằng năm Miếu tổ chức cúng vào dịp 20/2 âm lịch.

Miếu Ninh Yển được xây dựng vào năm 1993, Miếu thờ bà Thiên Y A Na. Hằng năm Miếu tổ chức cúng vào dịp 25/2 âm lịch.

Chùa Long Giang được xây dựng năm 1956 trên đảo Mỹ Giang. Năm 1962, sau khi bị xúc dân, chùa trở nên hoang phế. Năm 1991, chùa được xây dựng mới trên đất liền tại vị trí như ngày nay.

Đài Liệt sĩ được xây dựng tại thôn Ninh Tịnh, ghi danh những liệt sĩ quê hương Ninh Phước đã ngã xuống cho hòa bình, độc lập và thống nhất của Tổ quốc, cho sự bình yên của quê hương.

Nhân dân Ninh Phước có đời sống văn hóa tinh thần, những phong tục tập quán về ma chay, cưới hỏi, cúng tế có những nét giống với nhiều địa phương khác. Trong đó phong tục thờ cúng tổ tiên được truyền giữ và coi trọng. Gia đình nào cũng lập bàn thờ gia tiên, đặt ở nơi trang trọng nhất. Trên bàn thờ gia tiên thường có ảnh Bác Hồ. Ngày giỗ, tết, hội làng là nơi tụ họp của con cháu để hướng về cội nguồn, gia tộc, tổ tiên; thành kính đối với anh linh các bậc khai hoang, lập làng; những anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống trên quê hương Ninh Phước.

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Ninh Phước không có trường học, ai muốn học phải lên Hòn Khói. Tuy nhiên, số lượng người học phổ thông rất hạn chế, chỉ có một vài người biết chữ. Lúc này nền giáo dục không đủ điều kiện nâng cao dân trí, bởi thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân.

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân có điều kiện được xóa mù chữ nhờ tham gia “bình dân học vụ”. Tuy nhiên, do điều kiện lúc bấy giờ nên trình độ học vấn của đa số nhân dân chỉ dừng lại ở bậc sơ học (tiểu học).

Sau giải phóng năm 1975, công tác giáo dục được Đảng, Nhà nước và chính quyền cơ sở quan tâm đầu tư ngày càng phát triển mạnh thì việc học tập của nhân dân được thuận lợi hơn, nhiều con em được đi học. Trên địa bàn xã có đầy đủ 3 cấp học: Mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Đội ngũ giáo viên đều đạt chuẩn. Trình độ văn hóa của nhân nhân ngày càng được nâng cao, số lượng con em Ninh Phước tốt nghiệp cao đẳng, đại học ngày càng nhiều.

 

Họ tên*
Email*
Bình luận*
DV công đọ 3tra cuu tinh trang su ly ho so Hệ thống một cửaEofficeso nghanh dia phuong Tra cuu tthcTra cuu van ban Tra cuu đo 3 Tra cuu hs mot cua Nộp trực tuyếnÝ kiến công dân
Tin nổi bật
THĂM DÒ Ý KIẾN



Video

11/26/2020 7:45:39 PM

^ Về đầu trang